Nhìn đại ngàn bằng lưng

Nhìn đại ngàn bằng lưng

 

A Lưới đồng bào mình là đầu đề của bài thơ dài gần 500 câu (cũng có thể gọi là trường ca) của nhà thơ Phạm Nguyên Tường, NXB Thuận Hóa ấn hành năm 2017 vừa được tặng thưởng  “Tác phẩm, công trình xuất sắc năm 2017” của Liên hiệp các Hội VHNT Thừa Thiên Huế. A Lưới đồng bào mình – cái tít thật nôm na, dân dã mà nặng như thành ngữ, như một chân lý khẳng định. Cái tên ấy chứa đựng trong dó là cả một nền văn hóa, sử thi huyền thoại của đồng bào các dân tộc Pa Koo, Tà Ôi, Cơ Tu nơi đại ngàn Trường Sơn A Lưới. Đó là câu chuyện về các lễ hội, lễ nghi truyền thống về các Thánh Thần, về Giàng và tình yêu. Đó là cuộc chiến sinh tồn của các thế hệ người A Lưới để giữ núi rừng, giữ bản nghìn đời. Trường ca có 5 đoạn : đoạn 1 là sử thi huyền thoại; 2, 3, 3 là cuộc chiến “đồi thịt băm” và sự bất khuất của đồng bào A Lưới; 5 là hồi sinh.

Mở đầu trường ca là mặt nước Ưng Hoong huyền thoại/ Ẩm mục hồn nhiên/ Thăm thẳm hồn nhiên để bắt đầu cuộc hành trình tìm về cội nguồn của núi, của cây rừng, của lá, của chàng A Doi “miệt mài đục đẽo hoa văn/ đục đẽo huyền thoại/ nghìn triệu năm; của Giàng Koh xanh thẫm…. Và kết thúc là tình yêu của người A Lưới như tình con nước Ưng Hoong về xuôi, hòa vào mệnh mông Quê hương, Tổ Quốc. Nhớ người anh em đồng bằng / Nhớ nhau quả bầu huyền thoại/ Nhớ nhau thân cây bờ suối / Nhớ tiếng cồng trầm hơi…/ Kể lể với thần linh/ chuyện đời đồng bào mình/ thăm thẳm đại ngàn A Lưới .
      Theo truyền thuyết sử thi về cội nguồn của đồng bào Cơ Tu A Lưới, nhà thơ kể về những chàng trai mạnh mẽ, cường tráng, oai hùng là thủy tổ các dân tộc, làm nên núi, nên sông, nên bản. Đó là chàng A Doi:. …bóng chàng gừi cõng đá thiêng…tiếng hắt hơi của chàng mạnh hơn ngàn trận gió/ tống đuổi bọn gian tà… chàng là đá thiêng/ thịt da đá tảng…thân chàng uy nghi/ giáo đâm không thủng/ tên bắn không vào/ rựa chặt không đứt…Chàng là ngọn núi trời yêu nàng Kabih Katang đẻ ra ngàn ngọn núi cho người Cơ Tu    Đó là chàng Tơ Rứt  chém diều hâu cứu nàng Kalang Batưng về làm vợ . Chàng vít gãy cần rượu, bắt lợn một tay, leo gãy mười một bực thang… Chàng ôm giữ ngàn ngọn núi /cho người Cơ Tu. Đó là chàng Achât bước ra từ hốc đó Kăh Trakooq/ vạm vỡ như cây Pơ rao… chàng bước đi vùn vụt hư con chim chide’h aleang /  hai chân hai ngọn núi/ núi tựa lưng trời … hồn nhiên mà phóng túng / Như những thân hình Tà Ôi!
Sử thi ngàn đời còn nồng trong câu hát, trong cuộc sống hàng ngày của người A Lưới. Hãy hát rộng trên ngã ba sông này/ đón mừng mùa yêu nhau/ mùa đi sim ngây ngất/ hát cho thành vợ thành chồng/ hát cho thành nhà thành cửa/ hát cho quả bầu thần thoại/ đầu nguồn A Sáp A Lin/ Vỡ ra đông đúc /đồng bào mình.
      Cuộc chiến sinh tồn của đồng bào không kể nghìn đời bão tố, cuồng dông, lũ cuốn, mà ngay trong thời hiện đại, một loài thú dữ là con người đã tràn đến đại ngàn và biến đồi A Biah xinh đẹp thành “ đồi thịt băm” giai thoại. Cả giai thoại tuột tấm Zèng duy nhất quấn quanh thân/ mẹ một tay giữ zèng một tay giữa súng…Câu chuyện tác giả kể về người mẹ đại ngàn như một sự tổng kết :
               mẹ không biết quân thù gọi đồi Thịt Băm kinh khiếp
               máu thịt đồng bào máu thịt quê hương
               cây Arlăng nơi kẻ thù băm xác người trai làng Cu Lói
               có rửa sạch nỗi hờn căm bầy khát máu điện cuồng
Sau cuộc chiến hung tàn, mắt mẹ mờ đục, ký ức thâm u nhưng  hạt lúa mùa sau sớm hôm mẹ gừi lên rẫy/ nhìn đại ngàn bằng lưng…/cái gùi đẫm ướt lưng mẹ gùi cõi sống/ được mất từng câu mẹ nói nhớ, đồng bào mình. Thi ảnh nhìn đại ngàn bằng lưng, lưng mẹ gùi cõi sống, là những thi ảnh rất đắt tạc nên chân dung người mẹ hậu chiến nơi đại ngàn. Nhìn đại ngàn bằng lưng chính là hình ảnh khái quát đẹp nhất về đồng bào Ta Ôi, Cơ Tu trên đại ngàn Trường Sơn bao đời!
      Sau chiến tranh, sức sống trường tồn của đất rừng A Lưới được Phạm Nguyên Tường đặc tả qua hình tượng tấm Zèng, đặc sản thổ cẩm của đồng bào Tà Ôi, Cơ Tu, cội người văn hóa của đồng bào: Tấm zèng mẹ dệt ba ngày ba đêm/ hoa văn hoa mắt mẹ…/ những tấm  zèng đen là màu đen của rễ cây cắm sâu lòng đất/ màu đen của lá cây ủ sâu tầng trời/ màu đen đại ngàn thân thuộc/ bình dị mà kiêu hãnh/ như cái bụng người Tà Ôi…/ sắc zèng mê hoặc/ sắc zèng giục giã hoa văn…ôi xèng dệt sử thi/ chuyện đời đồng bào mình/kể lễ với thần linh…
         Cuộc chiến giữa du kích trai bản A Lưới với quân Mỹ diễn ra khốc liệt trong mười ngày đêm; cây rừng ngả nghiêng/ cây rừng ngã gục/ thân người ngả nghiêng/ thân người ngả gục…./ chiến tranh là địa ngục/ mười ngày đêm tháng năm sau chín/ ghi vào sử tang thương/ ghi vào sử căm hờn. Là thơ, nhà thơ không mô tả từng cuộc vật lộn giữa du kích trang bị thô sơ với lính Mỹ như một lũ điên với vũ khí hiện đai, rồi máy bay mén bom, pháo bầy pháo chụp như trong tiểu thuyết Đồi thịt băm của cố nhà văn Nhất Lâm, Bằng thơ, Phạm Nguyên Tường nói về cuộc chiến qua cảm thức từ trái tim mình, đọc lên nghe kinh khiếp : rời rã những họng súng chỉa lên trời oan nghiệt / ngọn đồi địa ngục. Và một câu hỏi lớn được hét lên : Tại sao A Biah tan xương nát thịt/ Tại sao A Biah máu thấm từng thớ đất / “nghiền lính trận như nghiền thịt lợn / mười ngày đêm A Biah thành chết chóc …/ Gió xé ngang A Sầu, Bốt Đỏ/ đất rạch dài Suối Máu, Tà Lương/ Cô Ca Va nham nhỏe đan bom/ Động Do nuôi lòng dân trong lòng đất/ Luống khói da cam nồng nặc / quằn quại dãy Trường Sơn
        Nhưng người đồng bào A Lưới không khuất phục. Sử thi, truyền thuyết đại ngàn lại hóa thân vào những người anh hùng hiện đại đánh thắng bọn giặc :                    
                                   Hóa thân vào A Vai, Cu Dục
                                   Hóa thân vào Kan Lịch, Kăn Đơm
                                   Hóa thân những chàng trai gái bản
      
         50 năm sau “đồi Băm Hồn” chỉ còn trong bảo tàng chứng tích. Bây giờ ngọn nêu gióng lên trời trong nghi lẽ axa, arát. Đất rừng A Lưới lại hồi sinh. Tác giả Phạm Nguyên Tường đã rất sảng khoái trong khổ thơ tự sự kể về những địa danh nơi đại ngàn A Lưới làm ăn tấn tới;  . Bây giờ : ngọt ngào như mặt mẹ Kawn Ruôh/ nuôi hết tám đứa con vào đại học/ ai lên trang trại Hồng Vân/ Hương Phong , A Đớt/ những cánh đồng lúa nước/ Hồng Quảng, Hồng Trung/ ai vô A Roàng thức giấc nguyên sinh/ ong cho mật đầy Nhâm/ Rừng keo A So Đông Sơn phủ xanh đất chết/ ai lên Hoognf Hạ Hồng Kim / Ngâm mihnf trong làn nước mát…/ sáng dạ như Kawn Tưi/ cứ sẵn sàng những giấc mơ vượt mình vượt núi…
         Trong A Lưới đồng bào mình nhừng hình tượng và ngôn ngữ thơ được khai thác tối đa huyền thoại, sử thi và ngôn ngữ đồng bào. Rất nhiều câu thơ hay là ngôn ngữ và tập tục đại ngàn : “ Ơi, cái lưng chàng to/ như hòn đá suối”;  Đôi chân em đẹp như ngà voi/ cái ngực em đẹp như mặt trăng/ cái tóc em dải mây dài trên núi; zèng trần đục tiếng cồng tiếng trồng/ zèng đung đưa điệu sao điệu kèn…/ mẹ đeo bông tai sừng trâu/ choàng cổ vòng mã não… Tác giả còn dựng hình tượng thơ bằng tư duy của đồng bào: nhìn đại ngàn bằng lưng ; hai chân hai ngọn núi…Cũng phải nói thêm, tập thơ in đến 10 bức trang minh họa của họa sĩ Đặng Mậu Triết, tranh màu, tranh bút sắt đã làm sinh động thêm cho thơ. Nhưng bức “ Nhìn đại ngàn bằng lưng”, “mẹ của núi rừng” hay “chiến tranh là địa ngục” rất ám ảnh!
      Nhà thơ Phạm Nguyên Tường là bác sĩ- tiến sĩ ở Khoa ung bướu, Bệnh viện Trung ương Huế. Anh bận chữa bệnh suốt ngày. Vậy thời giờ đâu mà viết trường ca A Lưới đồng báo mình xuất sắc vậy? Anh bảo:” Qua những lần đi trại viết của Hội, qua những đợt lên khám bệnh cho đồng bào, rồi gặp gỡ, tìm hiểu,  đến  gần chục năm mới viết được bài thơ dài này”. Vâng, thơ ca là thổn thức của trái tim, nhưng thơ ca cũng là sự đồng cảm với cuộc sống của con người, của một vùng đất. Xin cảm ơn nhà thơ đã cho đời một bài thơ hay về đại ngàn A Lưới!


Nguồn Văn nghệ số 13/2018

Bài viết cũ hơn
Lý Lịch Văn Chương
Góc Văn
Góc Thơ
Góc Bạn Bè
Hình Ảnh
Liên kết website